Hoa Đăng Gặp Lại Người Xưa

Chương 2



"Ai đưa con đi?"

"Tự con đi ạ."

Con bé nói như là điều hiển nhiên. Ta thấy trong lòng như bị nhét một cục bông, nghẹn ứ.

"Con có biết như vậy rất nguy hiểm không?"

Con bé ngẩn ra, có lẽ không ngờ ta lại nói vậy. Nó đặt miếng bánh xuống, nghiêm túc suy nghĩ, rồi từ trong ngực lấy ra một tờ giấy gấp phẳng phiu, mở ra cho ta xem. Trên đó vẽ mấy hình vẽ méo mó, còn có vài chữ viết như giun bò.

"Đây là bản đồ của con!"

Nó chỉ vào những hình vẽ đó, trịnh trọng giải thích cho ta: "Đây là núi, đây là sông, đây là cổng thành. Con đếm rồi, tổng cộng đi qua ba con sông, hai ngọn núi, bốn cái cổng thành!"

Nó lại giơ cổ tay có đeo một chiếc vòng bạc, trên vòng treo mấy cái chuông nhỏ, kêu linh đình.

"Mỗi khi đến một nơi, con lại nhờ các bác ở trạm xe viết hộ một phong thư gửi cho cha. Cha mà biết con ở đâu thì sẽ không lo lắng nữa."

Nó càng nói nhẹ nhàng, tim ta càng thắt lại. Một đứa trẻ năm tuổi phải lấy bao nhiêu dũng khí mới dám đi ngàn dặm đường một mình? Trên đường đi nó đã hỏi bao nhiêu người, bị từ chối bao nhiêu lần mới tìm thấy nơi này?

Giọng ta hơi run: "Lần sau nếu con muốn tìm ta, hãy nhờ người đưa tin, ta sẽ đi đón con."

Nó ngước nhìn ta, mắt sáng rực: "Thật sao ạ?"

"Thật."

"Vậy hứa nhé!" Nó chìa ngón tay út ra: "Ngoắc tay!"

Ta đưa tay ra ngoắc với nó. Ngón tay út của nó nhỏ xíu, mềm mại.

"Ngoắc tay, treo cổ, một trăm năm không được đổi dời!"

Nó đọc xong, lại dùng ngón cái đóng dấu lên ngón tay ta, rồi cười mãn nguyện.

"Nương thân." Nó lại gọi một tiếng, như muốn xác nhận đây không phải là mơ.

"Ơi."

"Nương thân."

"Ơi."

"Nương thân, nương thân, nương thân!"

Nó gọi liên tục mấy tiếng, mỗi tiếng lại rúc vào lòng ta một cái, như một chú heo con muốn bù đắp lại tất cả sự nũng nịu của năm năm qua. Ta ôm lấy nó, cằm tựa lên đỉnh đầu nó, ngửi thấy mùi bồ kết nhạt trên tóc con bé.

Đột nhiên nó yên lặng, nhỏ giọng hỏi: "Nương thân, người có lại biến mất không?"

Ta ôm chặt lấy con bé: "Sẽ không."

"Thật không ạ?"

"Thật."

Con bé vùi mặt vào ngực ta, khẽ "vâng" một tiếng. Một lúc sau, nó lại ngẩng đầu, nhìn ta nghiêm túc hỏi: "Nương thân, con không phải đang nằm mơ đúng không?"

"Không phải."

Nó toe toét cười, lộ ra hai chiếc răng khểnh: "Vậy con có thể ở lại bao lâu ạ?"

"Con muốn ở bao lâu thì ở."

Đôi mắt nó lập tức sáng bừng lên như thắp đèn: "Thật sao ạ? Vậy con có thể ở đến Tết không?"

"Được."

"Vậy con có thể ở đến khi con lớn không?"

Ta bị con bé làm cho bật cười, nhéo nhéo mũi nó: "Được."

Nó vui sướng vặn vẹo người trên ghế, hai cái chân nhỏ đung đưa càng hăng, chuông kêu linh đình.

"Vậy con phải ở lại thật lâu thật lâu! Con muốn ăn cơm nương nấu, muốn nương chải đầu cho con, muốn nương dỗ con ngủ, còn muốn nương kể chuyện cho con nghe nữa!"

Nó nói một tràng dài, rồi bỗng dừng lại, có chút ngượng ngùng nhìn ta: "Có phải tham lam quá không ạ?"

Ta lắc đầu: "Không đâu."

Lúc này nó mới yên tâm cười, lại cầm một miếng bánh quế hoa lên gặm nhấm. Ngoài cửa sổ mưa đã tạnh, một tia nắng xuyên qua kẽ mây chiếu lên mặt con bé. Ta nhìn con bé, thầm nghĩ, tất cả đắng cay của năm năm qua, dường như đều xứng đáng cả rồi.

2

Chiều xuống, ta đưa Niệm Cẩm trở về tiểu viện ở phía đông thành.

Trong sân trồng một cây tỳ bà, là do ta trồng vào năm mới dọn đến, giờ đã cao lớn xanh tốt.

Dưới gốc cây có dựng một chiếc xích đu nho nhỏ. Hai hôm trước Thẩm Diên vừa giúp ta làm xong, nói là để cho con nhà hàng xóm chơi, nào ngờ lại tiện nghi cho chính con gái ta trước.

Niệm Cẩm vừa bước vào cửa đã “oa” lên một tiếng, buông tay ta ra, chạy khắp sân.

“Nương thân! Có cây! Có hoa! Còn có cả xích đu nữa!”

Nó chạy đến dưới gốc tỳ bà, ngẩng đầu nhìn một lúc, rồi lại chạy đến bên xích đu, nhón chân muốn leo lên, thử mấy lần mà vẫn không với tới.

Ta bước tới, bế nó lên, nhẹ nhàng đẩy một cái.

Nó cười đến nghiêng ngả, tiếng cười lanh lảnh vang khắp sân.

“Nương thân! Cao hơn chút nữa! Cao hơn nữa!”

Ta sợ nó ngã nên không dám đẩy quá mạnh, nó liền bĩu môi, uốn éo làm nũng:

“Nương thân… cao thêm chút nữa đi mà…”

Ta không cưỡng lại được, đành đẩy mạnh thêm vài phần.

Chiếc xích đu vút lên, váy nó bay trong gió như một con bướm hồng. Hai búi tóc buộc dây đỏ theo gió tung bay, chuông nhỏ kêu leng keng.

“Con bay lên rồi….!”

Nó cười đến mức mắt híp lại, miệng há ra, lộ hai chiếc răng khểnh, ngây thơ rạng rỡ.

Ta đứng phía sau xích đu, nhìn nó cười, hốc mắt lại bất giác đỏ lên.

Chơi được hơn nửa canh giờ, nó mới chịu xuống. Ta dẫn nó vào phòng, đun nước cho nó tắm.

Nó đứng bên thùng tắm, ôm con hổ vải, có chút ngượng ngùng nhìn ta:

“Nương thân… người có thể… đi ra ngoài một lát được không?”

Ta ngẩn ra một chút rồi hiểu ngay.

“Được, nương thân đứng ngoài đợi con.”

Ta đóng cửa, đứng dưới hành lang chờ. Một lát sau, bên trong vang lên tiếng nước ào ào, còn có tiếng nó lẩm bẩm khe khẽ.

Ta ghé tai nghe, hóa ra nó đang nói chuyện với con hổ vải.

“Hổ Hổ à, ta tìm được nương thân rồi, người đẹp lắm.”

“Người còn đẩy xích đu cho ta, đẩy cao thật cao.”

“Ngươi nói xem, người có cho ta ở lại lâu không? Ta muốn ở thật lâu thật lâu.”

“Người vừa rồi nói là được, nhưng người lớn đôi khi nói chuyện không giữ lời…”

Nói đến câu cuối, giọng nó nhỏ dần, mang theo chút lo lắng không chắc chắn.

Ta tựa vào khung cửa, ngẩng đầu nhìn trời, cố ép nước mắt trở lại.

Một lúc sau, bên trong gọi:

“Nương thân, con tắm xong rồi!”

Ta đẩy cửa bước vào. Nó đã mặc xong trung y, tóc còn ướt dính vào má, trông như một chú mèo nhỏ vừa rơi xuống nước.

Ta lấy khăn khô lau tóc cho nó, nó ngoan ngoãn ngồi trên ghế, hai chân nhỏ đung đưa, chuông lại leng keng.

“Nương thân, người kể chuyện cho con nghe được không?”

“Con muốn nghe gì?”

“Ừm…” Nó nghĩ một lúc, “Con muốn nghe chuyện trước đây của người.”

Tay ta đang lau tóc chợt khựng lại.

“Vì sao con muốn nghe?”

Nó quay đầu nhìn ta, đôi mắt sáng long lanh:

“Bởi vì… bởi vì khi người không ở bên con, con muốn biết người đang làm gì.”

“Sau này nếu có ai hỏi nương con ở đâu, con có thể nói cho họ biết nương con đang làm gì.”

Ngón tay ta luồn qua mái tóc nó, chậm rãi chải lại cho ngay ngắn.

“Được.”

3

Những chuyện đó, thật ra ta chưa từng kể cho bất kỳ ai.

Nhưng khi nhìn vào đôi mắt của Niệm Cẩm, những ký ức đã bị ta chôn sâu suốt năm năm ấy, bỗng nhiên không còn khó nói ra nữa.

Ta là người Tô Châu. Cha ta là thầy đồ dạy học, còn mẹ ở nhà thêu thùa kiếm thêm tiền sinh hoạt.

Từ nhỏ ta đã theo mẹ học thêu.

Ba tuổi cầm kim, năm tuổi đã biết thêu hoa văn.

Đến năm tám tuổi, những bức thêu của ta đã là đẹp nhất cả con phố.

Mẹ nói ta sinh ra đã là một tú nương, đôi tay này còn khéo léo hơn cả những thợ lành nghề đã làm nghề hai mươi năm.

Năm ta mười bốn tuổi, cha nhiễm phong hàn, bệnh kéo dài mấy tháng rồi qua đời.

Trụ cột trong nhà sụp đổ, mẹ ngày đêm vất vả, đôi mắt cũng dần kém đi.

Để nuôi mẹ, ban ngày ta làm việc ở tú phường, ban đêm nhận việc riêng, mỗi ngày ngủ không quá hai canh giờ.

Năm mười sáu tuổi, mẹ cũng qua đời.

Trước lúc lâm chung, bà nắm tay ta dặn dò:

“A Nguyên, tay nghề của con không nên bị chôn vùi ở nơi nhỏ bé này.

Hãy lên kinh thành đi. Chủ phường Vân Cẩm là bạn cũ của ngoại công con, mang theo bức thư này tìm ông ấy, ông ấy sẽ không bạc đãi con đâu.”

Ba ngày sau khi mẹ mất, ta thu dọn hành lý, khâu mấy lượng bạc cuối cùng vào trong áo, lên đường đến kinh thành.

Kinh thành rất lớn — lớn đến mức một cô gái lớn lên ở Tô Châu như ta cảm thấy sợ hãi.

Chủ phường Vân Cẩm họ Chu, là một người trung niên hơn bốn mươi tuổi. Ông xem thư của mẹ, lại nhìn những mẫu thêu của ta, trầm mặc rất lâu.

“Tay nghề của mẹ con năm đó ở kinh thành là hạng nhất, mà con… còn giỏi hơn bà ấy.”

Chương trước Chương tiếp
Loading...