Mời bạn CLICK vào liên kết bên dưới và
Mở Ứng Dụng Shopee để mở khóa toàn bộ chương truyện!
Đào Hoa Y Cựu
Chương 6
27
Sau chuyện của nhà họ Thẩm, triều đình yên ổn hơn nhiều.
Phụ thân làm việc ở Binh bộ vô cùng cẩn trọng, không kết bè kết cánh, không mưu cầu tư lợi, mỗi ngày lên triều rồi hạ triều, như một vị thần tử quy củ nhất.
Tiêu Triệt càng thêm để tâm đến Thừa Tắc, không chỉ đích thân dạy dỗ mà còn mời danh nho đương thời làm Thái phó.
Thừa Tắc rất có chí tiến thủ, bài vở luôn tốt nhất, Thái phó thường khen rằng:
“Có khí tượng minh quân.”
An Ninh bảy tuổi rồi, càng lớn càng duyên dáng yêu kiều.
Tính tình nàng trầm ổn nhưng rất có chính kiến, khiến ta không khỏi nhớ đến chính mình khi còn trẻ.
Hôm đó, nàng đến tìm ta, nói muốn học cưỡi ngựa.
“Con gái học cưỡi ngựa làm gì?”
Ta nhíu mày.
“Vì sao con gái lại không thể học?”
An Ninh ngẩng khuôn mặt nhỏ nhắn.
“Ngoại tổ phụ nói, nữ tử nơi biên cương ai nấy đều biết cưỡi ngựa bắn cung, rất tự do phóng khoáng.”
Ta nhìn ánh sáng trong mắt con bé, bỗng mềm lòng.
“Được, mẫu phi dạy con.”
Ta chọn một con ngựa nhỏ hiền lành ở Ngự mã giám, mỗi chiều đưa An Ninh đi tập cưỡi ngựa.
Nàng học rất nhanh, không bao lâu đã có thể tự điều khiển.
Tiêu Triệt biết chuyện thì không vui.
“Công chúa nên học cầm kỳ thư họa, học cưỡi ngựa ra thể thống gì.”
Ta nói:
“Hoàng thượng, An Ninh thích mà.”
“Thích cũng không thể tùy tiện.”
Hắn nói.
“Nó là công chúa, sau này phải gả chồng. Cứ như vậy hoang dã, ai còn dám lấy?”
Ta nhìn hắn:
“Hoàng thượng, An Ninh còn nhỏ.”
“Không còn nhỏ nữa.”
Tiêu Triệt thở dài.
“Trẫm đã bắt đầu chọn phò mã cho nó rồi.”
Tim ta chợt thắt lại:
“Hoàng thượng, An Ninh mới bảy tuổi.”
“Chỉ là định trước, đợi đến lúc cập kê mới thành hôn.”
Hắn nói.
“Trẫm đã để ý đến thế tử của Trấn Quốc công phủ, tuổi tác tương đương, nhân phẩm cũng tốt.”
Ta không nói gì.
Ta biết, Trấn Quốc công đang nắm giữ binh quyền vùng Kinh Kỳ.
Tiêu Triệt là muốn dùng hôn sự của An Ninh để lôi kéo Trấn Quốc công.
Con gái của ta, lại trở thành quân cờ cho hắn củng cố đế vị.
“Hoàng thượng.”
Ta nghe thấy giọng mình lạnh băng.
“Chuyện hôn nhân của An Ninh, có thể đợi con bé lớn hơn một chút được không?”
Tiêu Triệt nhìn ta, ánh mắt phức tạp:
“A Uyển, trẫm là vì An Ninh.”
“Hoàng thượng thật sự là vì An Ninh sao?”
Ta hỏi lại.
“Hay là vì giang sơn của người?”
Lời vừa thốt ra, ta đã biết mình đã nói quá.
Sắc mặt Tiêu Triệt sa sầm:
“Trịnh Uyển, nàng có ý gì?”
Ta quỳ xuống:
“Thần thiếp thất ngôn, xin hoàng thượng trách phạt.”
Hắn nhìn ta rất lâu, cuối cùng phất tay áo rời đi.
Đêm đó, hắn không đến cung Vĩnh Ninh.
28
Tiêu Triệt liền ba ngày không đến cung Vĩnh Ninh.
Trong cung bắt đầu có lời đồn rằng Hi Hoàng quý phi thất sủng rồi.
Xuân Đường sốt ruột đến mức đi qua đi lại, còn ta thì rất bình tĩnh.
Thất sủng thì thất sủng thôi, những năm qua, được sủng hay không được sủng, có gì khác biệt?
Ngày thứ tư, Tiêu Triệt đến.
Hắn trông mỏi mệt vô cùng, quầng thâm dưới mắt rõ rệt, như thể đã mấy hôm không ngủ ngon.
“A Uyển.”
Hắn ngồi xuống, giọng khàn khàn.
“Chúng ta nói chuyện đi.”
Ta rót trà cho hắn:
“Hoàng thượng cứ nói.”
“Chuyện hôn sự của An Ninh… trẫm sẽ suy nghĩ lại.”
Hắn nói.
“Nhưng nàng phải hiểu, trẫm là hoàng đế, có những việc, là bất đắc dĩ.”
Ta gật đầu:
“Thần thiếp hiểu.”
“Nàng không hiểu.”
Hắn nắm lấy tay ta.
“A Uyển, những năm qua, trẫm rất mệt.
Tiền triều hậu cung, mọi việc đều phải cân nhắc, đều phải toan tính.
Có lúc trẫm nghĩ, nếu trẫm không phải hoàng đế thì tốt biết bao.”
Ta không đáp.
Lời này, hắn đã nói quá nhiều lần rồi.
Nhưng hắn là hoàng đế, vĩnh viễn là hoàng đế.
“A Uyển.”
Hắn nhìn ta.
“Nàng còn nhớ đêm thành hôn của chúng ta không?
Nàng từng nói, nguyện được một lòng người, đầu bạc không chia lìa.”
Ta nhớ.
Sao có thể không nhớ?
Khi ấy ta còn tin rằng, tình yêu có thể vượt qua tất cả.
“Trẫm còn nhớ, khi đó nàng cười rất đẹp.”
Tiêu Triệt mắt mơ màng.
“Giống như hoa nở mùa xuân.”
Ta cúi mắt:
“Hoàng thượng, những chuyện ấy đã qua rồi.”
“Phải, đã qua rồi.”
Hắn cười khổ.
“A Uyển, có lúc trẫm nghĩ, nếu được làm lại một lần nữa, trẫm có thể làm tốt hơn không?”
Ta lắc đầu:
“Hoàng thượng đã làm rất tốt rồi.”
“Không tốt.”
Hắn nói.
“Trẫm phụ nàng, phụ Thanh Đại, phụ rất nhiều người.”
Hắn đứng dậy, đi đến bên cửa sổ, nhìn cây mai già ngoài kia.
“Cây này, là trẫm đích thân trồng cho nàng.
Nàng nói nàng thích hoa mai, vì nó kiên cường trong tuyết, có khí tiết.”
Ta bước đến bên hắn:
“Bây giờ vẫn thích.”
Hắn quay đầu nhìn ta, trong mắt ánh lên giọt lệ.
“A Uyển, trẫm… xin lỗi nàng.”
Câu này, ta đã đợi rất nhiều năm.
Nhưng khi nghe được, chỉ cảm thấy buốt giá.
“Hoàng thượng không có lỗi với thần thiếp.”
Ta nói.
“Người chỉ làm những việc một hoàng đế nên làm mà thôi.”
Tiêu Triệt nhìn ta rất lâu, cuối cùng dang tay ôm lấy ta.
Ôm rất chặt, như thể muốn hòa ta vào xương máu.
Ta không đẩy hắn ra, nhưng cũng không đáp lại.
Cái ôm này, đến quá muộn rồi.
29
Từ đó, Tiêu Triệt không nhắc lại chuyện hôn sự của An Ninh.
Nhưng ta biết, hắn chỉ đang đợi, đợi một thời cơ thích hợp.
Năm Thừa Tắc tám tuổi, Bắc Địch xâm phạm biên cương.
Tuy phụ thân đã rửa tay gác kiếm, nhưng trong triều không ai có thể đối địch, Tiêu Triệt buộc phải khởi dụng ông, lệnh ông thống lĩnh đại quân xuất chinh.
Trước lúc khởi hành, phụ thân vào cung gặp ta.
“A Uyển, lần này cha đi, không biết bao giờ mới trở về.”
Ông nói.
“Con ở trong cung, nhất định phải bảo trọng.”
Ta nhìn mái tóc đã bạc của ông, lòng đau như dao cắt.
“Cha, nữ nhi bất hiếu…”
“Đứa ngốc này.”
Phụ thân vỗ tay ta.
“Bảo gia vệ quốc là bổn phận của tướng quân.
Cha tuy già, nhưng còn có thể ra trận giết giặc, đó là vinh dự.”
Ông ngừng một lát, hạ giọng:
“A Uyển, nếu cha không thể trở về, con phải nhớ bảo vệ bản thân, bảo vệ Thừa Tắc và An Ninh.
Tương lai của nhà họ Trịnh, đều nhờ vào các con.”
Nước mắt ta rơi xuống:
“Cha, nhất định phải bình an trở về.”
Phụ thân mỉm cười, nụ cười hiền hòa:
“Được, cha hứa với con.”
Ngày phụ thân xuất chinh, ta đưa Thừa Tắc và An Ninh ra tận cửa thành tiễn biệt.
Dưới cổng thành, phụ thân khoác giáp bạc, oai phong lẫm liệt, tựa như vị đại tướng quân tung hoành năm xưa.
Ông leo lên ngựa, quay đầu nhìn ta, ánh mắt kiên định.
Sau đó thúc ngựa lao đi, khuất dần trong bụi cát.
Ta ôm An Ninh, nhìn theo bóng ông khuất dần, hồi lâu không dứt.
Xuân Đường khẽ nói:
“Nương nương, đại tướng quân nhất định sẽ khải hoàn trở về.”
Ta gật đầu, nhưng trong lòng mơ hồ bất an.
Trận chiến ấy kéo dài suốt nửa năm.
Phụ thân đã già, tuy kinh nghiệm phong phú, nhưng sức khỏe không còn như trước.
Nhiều phen nguy hiểm, chiến báo truyền về khiến ta đêm đêm không yên giấc.
Tiêu Triệt cũng lo lắng, mỗi ngày đều triệu kiến quan Binh bộ, bàn luận quân tình.
Cuối cùng, vào cuối năm, tin thắng trận truyền về.
Phụ thân đại phá Bắc Địch, thu hồi lãnh thổ, Bắc Địch dâng thư hàng.
Tin truyền đến, toàn triều vui mừng.
Tiêu Triệt lập tức hạ chỉ, phong phụ thân làm Trấn Quốc công, thế tập võng truyền.
Thế nhưng, thánh chỉ chưa kịp đưa đến biên cương, lại có tin báo:
Phụ thân bị thương nặng, không qua khỏi, mất tại doanh trại.
30
Ngày nhận tin phụ thân qua đời, trời đổ tuyết.
Ta đứng trong sân Vĩnh Ninh cung, lặng lẽ nhìn tuyết rơi.
Từng bông, từng bông rơi trên cành mai, rơi trên bậc đá, rồi rơi thẳng vào lòng ta.
Xuân Đường khóc đến không thành tiếng, run rẩy khoác áo choàng cho ta:
“Nương nương… xin người nén bi thương…”
Ta lắc đầu.
Bước đến dưới cây mai, ta đưa tay đón lấy một bông tuyết.
Nó tan ra trong lòng bàn tay, lạnh đến tận xương.
Phụ thân… đã đi rồi.
Và sẽ không bao giờ trở lại.
Tiêu Triệt đến, đứng sau lưng ta rất lâu, mới cất tiếng:
“A Uyển… Trẫm đã hạ chỉ truy phong nhạc phụ là Trung Dũng vương, lấy lễ thân vương an táng.”
Ta quay người nhìn hắn.
“Hoàng thượng,” ta nói rất chậm, “phụ thân thiếp… không cần những thứ đó.”
Ông cần, là con gái bình an.
Là cháu trai cháu gái khỏe mạnh.
Là một nhà đoàn tụ…
Nhưng những điều ấy, ông chưa từng kịp nhìn thấy.
Tiêu Triệt ôm lấy ta:
“A Uyển… khóc đi.”
Và ta khóc.
Khóc đến ruột gan như bị xé nát, khóc đến trời đất mờ đi.
Cha ơi… nữ nhi bất hiếu.
Không thể để người an hưởng tuổi già, không thể để người thấy Thừa Tắc trưởng thành, cũng không thể để người bồng An Ninh một lần…
Ngày linh cữu phụ thân về kinh, ta dẫn Thừa Tắc và An Ninh ra ngoài thành nghênh đón.
Quan tài rất nặng.
Nặng đến mức những binh sĩ khiêng linh cữu bước đi lảo đảo.
Ta đặt tay lên nắp quan tài, khẽ nói:
“Cha… con gái tiễn người đoạn đường cuối.”
Thừa Tắc quỳ xuống, dập đầu ba cái:
“Ngoại tổ phụ, Thừa Tắc nhất định học hành chăm chỉ, làm một vị minh quân.”
An Ninh khóc, ôm chặt chân ta:
“Mẫu phi… ngoại tổ phụ đi xa lắm phải không?”
Ta lau nước mắt cho con:
“Ừ… đến nơi không còn chiến tranh.”
Tang lễ rất long trọng.
Tiêu Triệt thân chinh phụ linh, văn võ bá quan toàn triều mặc đồ tang.
Nhưng long trọng đến đâu …cũng không đổi lại được mạng sống của cha ta.
Sau tang lễ, ta đổ bệnh.
Trong cơn mê man, ta liên tục mơ thấy phụ thân.
Mơ thấy ông dắt ta đi xem hoa đăng, mơ thấy thư ông gửi từ biên ải, mơ thấy lần cuối gặp mặt, ông nói:
“A Uyển, cha hứa với con… nhất định sẽ trở về.”
Nhưng ông đã thất hứa.
Tiêu Triệt ngày nào cũng đến, đích thân đút thuốc:
“A Uyển… nàng phải khỏe lại. Thừa Tắc, An Ninh… còn cần nàng.”
Ta nhìn hắn, hỏi:
“Nếu phụ thân thiếp chưa chết… Hoàng thượng có còn định để ông ấy hồi kinh không?”
Tay hắn run lên, thuốc tràn ra ngoài.
Hắn trầm mặc rất lâu, mới nói:
“Sẽ.”
Ta bật cười.
“Hoàng thượng,” ta nói, giọng rất nhẹ, “người thật tàn nhẫn.”
“Trẫm là hoàng đế.”
Hắn đáp.
“Hoàng đế… không thể mềm lòng.”
Phải rồi.
Hoàng đế không mềm lòng.
Cho nên có thể hy sinh phụ thân ta, hy sinh Thẩm Thanh Đại, hy sinh bất kỳ ai — chỉ để đổi lấy một giang sơn ổn định.
31
Sau khi khỏi bệnh, ta thay đổi.
Không còn hỏi đến cung vụ, không nhắc triều chính, mỗi ngày chỉ ở bên Thừa Tắc và An Ninh.
Dạy đọc sách, luyện chữ, nhìn chúng lớn lên từng ngày.
Tiêu Triệt đôi khi đến, ta hành lễ, dâng trà, khách khí đúng mực.
Hắn nhìn ta rất lâu, nhưng rốt cuộc không nói gì.
Năm Thừa Tắc mười tuổi, Tiêu Triệt bắt đầu để con tiếp xúc triều chính.
Mang con lên triều, dạy con phê tấu.
Triều thần đều khen Thái tử chín chắn sớm, có phong thái minh quân.
An Ninh cũng mười tuổi.
Con bé không còn nhắc đến cưỡi ngựa, mỗi ngày theo nữ quan học lễ nghi, cầm kỳ thư họa — ngoan ngoãn đến mức khiến người đau lòng.
Một hôm, nó hỏi ta:
“Mẫu phi, vì sao nữ tử nhất định phải gả chồng?”
“Nữ nhi đọc sử,” nó nói, “thấy nhiều công chúa phải hòa thân, cả đời buồn khổ.
Nữ nhi… không muốn.”
Ta ôm con vào lòng:
“An Ninh… có những chuyện, không phải muốn hay không muốn.”
“Nữ nhi hiểu.”
Nó cúi đầu.
“Nhưng nữ nhi muốn giống ngoại tổ phụ — bảo gia vệ quốc.”
Tim ta đau như bị bóp chặt.
Ta nói:
“Mẫu phi sẽ bảo vệ con.”
Nhưng ta biết — lời hứa ấy mỏng manh biết bao.
Hai năm sau, Bắc Địch xâm lấn.
Triều đình không ai chống đỡ nổi.
Ngày ấy, An Ninh đến tìm ta:
“Mẫu phi, nữ nhi muốn đi hòa thân.”
Tách trà trong tay ta rơi xuống, vỡ tan.
“Không được!”
An Ninh quỳ xuống:
“Con là công chúa. Đây là mệnh.”
Ta ôm chặt con, khóc không thành tiếng.
“Mẫu phi,” nó lau nước mắt cho ta, “ngoại tổ phụ từng nói — nữ nhi họ Trịnh, phải có khí cốt.”
Ta nhìn ánh mắt kiên định ấy.
Giống hệt phụ thân.
32
Ta đi tìm Tiêu Triệt.
Trong điện Dưỡng Tâm, hắn đang xem chiến báo.
Ta quỳ xuống:
“Xin Hoàng thượng… đừng để An Ninh đi.”
“Nó mới mười hai tuổi…”
Tiêu Triệt trầm mặc rất lâu:
“Trẫm… cũng không nỡ.”
“Hãy để thần thiếp đi.” - Ta nói.
“Vô lý!”
Hắn quát.
“Vậy còn An Ninh?”
Ta nhìn thẳng hắn.
“Nó không phải con ruột của người sao?”
Hắn quay đi:
“Trẫm là hoàng đế.”
Ta cười:
“Trong lòng hoàng đế, giang sơn nặng nhất, thiên hạ kế đến, còn con cái — nhẹ nhất.”
Ta dập đầu:
“Nếu An Ninh phải đi, thần thiếp sẽ chết tại đây.”
Cuối cùng, hắn chỉ nói:
“Trẫm… sẽ suy nghĩ.”
Ba ngày sau, thánh chỉ ban xuống.
Chiêu Ninh công chúa — hòa thân Bắc Địch.
Ngày nhận chỉ, An Ninh rất bình tĩnh.
Chỉ khi trở về Vĩnh Ninh cung, nó mới khóc trong lòng ta.
“Mẫu phi, con phải đi rồi.”
Ta ôm con, tim như vỡ nát.
Nhưng con gái ta — đã lớn rồi.
Cái giá để trưởng thành — quá đắt.
33
Ngày An Ninh xuất giá, trời nắng rất đẹp.
Con bé khoác hỉ phục đỏ thẫm, đầu đội phượng quan, dung nhan thanh tú đến mức khiến người không dám nhìn lâu — tựa như một giấc mộng rực rỡ, chỉ tồn tại trong khoảnh khắc.
Tiêu Triệt đích thân tiễn con ra khỏi hoàng cung.
Hắn nắm tay An Ninh thật chặt, cúi xuống nói rất khẽ:
“An Ninh… phụ hoàng xin lỗi con.”
An Ninh mỉm cười.
Nụ cười ấy bình thản đến lạ.
“Phụ hoàng, con không trách người.”
Con bé nói.
“Con chỉ mong người… chăm sóc mẫu phi cho thật tốt.”
Mắt Tiêu Triệt đỏ hoe.
“Trẫm hứa với con.”
Ta đứng trên lầu thành, nhìn đoàn người đưa dâu chậm rãi rời xa.
Cờ xí lay động, tiếng nhạc hỉ dần nhỏ lại, từng bước từng bước, kéo con gái ta ra khỏi tầm mắt.
An Ninh không quay đầu.
Dù chỉ một lần.
Ta biết — chỉ cần quay đầu lại, con bé sẽ không đi nổi nữa.
“Hi Hoàng quý phi,” Xuân Đường đỡ lấy ta, giọng nghẹn ngào.
“Hồi cung thôi ạ.”
Ta lắc đầu.
“Chờ thêm một chút.”
Ta đứng đó, chờ mặt trời khuất sau núi, chờ ánh hoàng hôn tắt hẳn, chờ sao phủ kín bầu trời, chờ đến khi… không còn nhìn thấy gì nữa.
Con gái của ta…đi rồi.
Từ ngày ấy, ta đổ bệnh.
Cơn bệnh rất nặng.
Sốt cao không lui, thần trí mê man.
Thái y nói, là vì bi thương quá độ, tâm mạch tổn hại.
Tiêu Triệt ở bên giường ta suốt ba ngày ba đêm.
Không rời nửa bước.
“A Uyển… nàng tỉnh lại đi…”
“Trẫm sai rồi…”
“Trẫm… thật sự đã sai rồi…”
Ta nghe thấy tiếng hắn.
Muốn mở mắt…nhưng làm thế nào cũng không thể.
Trong mộng, ta gặp lại phụ thân.
Ông mặc khôi giáp, cưỡi chiến mã, phi trên thảo nguyên mênh mông nơi biên ải.
Thấy ta, ông ghìm cương, mỉm cười:
“A Uyển, cha về rồi.”
Ta òa khóc, chạy về phía ông:
“Cha… nữ nhi nhớ người lắm…”
“Ngốc quá.”
Phụ thân xoa đầu ta.
“Cha cũng nhớ con. Nhưng không thể ở lâu — còn phải giữ biên cương.”
“Cha đừng đi…”