Mời bạn CLICK vào liên kết bên dưới và
Mở Ứng Dụng Shopee để mở khóa toàn bộ chương truyện!
Hoa Gặp Trăng Sáng
Chương 4
Ngoài sân, nha hoàn sai vặt to nhỏ bàn nhau, rằng sau năm mới sẽ xin rời phủ.
Ta thừa lúc trống, len lén lẻn vào.
Xuyên qua từng lớp màn trướng, cuối cùng ta cũng ngồi bên cạnh hắn.
Chu Chấp Tự nằm bất động, tái nhợt như lúc mới gặp.
Ta ngồi dưới bệ giường, đưa tay ôm lấy bàn tay hắn, áp nhẹ lên trán mình.
Hắn mở mắt, khẽ gọi: “...Lô Hoa.”
Ta hỏi: “Chu Chấp Tự, ngài sắp chết thật sao?”
Hắn vẫn mỉm cười, không gật, cũng chẳng lắc.
“Có lẽ vậy.”
Ta siết chặt tay hắn, thì thầm: “Ta không muốn.”
“Hửm?”
“Ta không muốn ngài chết.”
Hắn ho khẽ rồi rút tay ra, xoa nhẹ đầu ta: “Đừng lo. Ta đã dặn Ánh cô rồi.
Sau khi ta mất, bà ấy sẽ đưa ngươi đến một nơi tử tế.”
“Không.”
“Ta không muốn rời khỏi đây.”
“Lô Hoa…”
“Ta muốn cùng ngài đi xem đèn.”
Câu nói lạc đề khiến hắn sững lại: “...Xem đèn gì?”
“Đèn Tết Thượng Nguyên.” Ta nói: “Nghe bảo năm nay có rồng Nam Gia, biết phun lửa, vui lắm.
Ta không cần trèo tường nữa đâu, sau bụi giả sơn có một lỗ nhỏ, vừa đủ để chui qua.”
Chu Chấp Tự nheo mắt, giọng khàn khàn: “Ngươi muốn ta cùng chui lỗ chó với ngươi sao?”
“Ừ.” Ta gật đầu chắc nịch: “Đại trượng phu co được giãn được mà.”
Hắn bật cười rồi ho sặc một trận.
“Ngươi thật là…”
“Không được sao?” Ta dè dặt hỏi: “Ngài không thích ư?”
Chu Chấp Tự khựng lại rồi lắc đầu thật khẽ: “Thích.”
“Vậy thì hứa đi.” Ta nắm lấy tay hắn, siết chặt: “Sau này cùng nhau đi xem đèn.”
Dưới ánh nến vàng nhạt, khuôn mặt tái nhợt của hắn gần như trong suốt.
Hắn nhẹ nhàng thì thầm: “Về sau... à...”
Rất lâu sau, cuối cùng hắn cũng thoả hiệp.
Đầu ngón tay mảnh khảnh khẽ chạm vào má ta.
“Được rồi.” Hắn cười, dịu dàng như cơn gió đầu xuân: “Ta sống, để cùng ngươi đi xem đèn.”
17
Hôm sau là mùng Một Tết.
Tiếng gà gáy đầu tiên vừa dứt, ta đã vội vàng rời giường.
Tuyết đêm qua vẫn còn đọng trên mái hiên, nước đọng nơi thềm đã kết băng.
Ta khoanh tay chạy đến ngoài phòng Chu Chấp Tự.
Còn đang do dự thì Ánh cô đã bước ra.
Bà đưa cho ta một bao lì xì bằng giấy đỏ.
“Tiền mừng tuổi. Cầm lấy, để năm mới an lành, bình an vô sự.”
Ta hoảng hốt nhận lấy, trong lòng dâng lên một nỗi bất an mơ hồ.
“Thiếu gia đâu rồi? Ngài ấy sao rồi?”
Vừa dứt lời, ta liền muốn chạy vào.
Ánh cô đưa tay cản lại rồi bất ngờ kéo ta ôm vào lòng.
Trên người bà vẫn là hương xà phòng thảo mộc nhàn nhạt, giống hệt mùi hương trên người mẫu thân năm nào.
Khiến ta bất giác thả lỏng.
“Thiếu gia không sao.”
Giọng bà khẽ, hơi run: “Đại phu đang bên trong.
Hôm qua, ngài ấy dùng cách hiểm nhất để cứu mình…
Mấy ngày tới e là rất khổ sở.
Ngươi ngoan, đừng vào.”
Ta nhìn tấm màn bông dày nặng phủ ngoài cửa, nhẹ gật đầu.
“Con ngoan lắm, Ánh cô.
Người đừng buồn.
Thiếu gia... sẽ khỏe lại thôi.”
Một giọt nước rơi xuống đỉnh đầu ta.
Ta đưa tay lên, phát hiện là tuyết tan, đã hóa thành nước ấm.
Ta bắt chước mẫu thân mình thuở trước, nhẹ tay vuốt lưng Ánh cô, thì thầm an ủi.
Bà ôm chặt lấy ta, như cánh chim cuối cùng đã gập cánh sau bão tuyết.
18
Vài ngày sau, trời đột ngột ấm lên một cách lạ thường.
Mùa đông ở Dao Quang thành vốn kéo dài dai dẳng, hiếm có năm nào xuân đến sớm như vậy.
Tuyết còn chưa kịp tan mà hoa đã đâm chồi, nở rộ.
Tuyết trắng đè lên những cánh hoa vàng, rung lên sắc xuân trong trẻo như sớm mai.
Ngày mùng Chín tháng Giêng, Chu Chấp Tự tỉnh lại.
Vị đại phu từ xa đến dọn dẹp hộp châm, trải giấy tuyên, kê đơn thuốc mới.
Ánh cô tiến lại hỏi han.
Ta đứng xa nhìn, không nghe được gì, chỉ thấy bà đang nói rồi bất chợt lấy tay che miệng, nước mắt tuôn rơi.
Nhưng gương mặt bà lại rạng rỡ niềm vui.
Cảm xúc của người lớn… đúng là quá phức tạp.
Hai ngày sau nữa, tuyết tan hoàn toàn.
Mái ngói cũng sạch sẽ, óng ánh sắc xuân đầu mùa.
Bọn nha hoàn xì xào, bảo Chu Chấp Tự giờ đã chịu ăn, thuốc uống vào không còn nôn nữa.
Chỉ là thân thể còn yếu, cần tĩnh dưỡng.
Cuối cùng ta cũng được phép vào thăm hắn.
Đêm mười ba tháng Giêng.
Ta trèo lên tường viện, nhìn ra bên ngoài.
Đèn đuốc rực rỡ, xe ngựa nối nhau như nước, khung cảnh tiết Thượng Nguyên náo nhiệt tưng bừng.
Ta ngắm một lát rồi quay về.
Chu Chấp Tự tựa người vào gối mềm, nhàn nhạt cười hỏi: “Bên ngoài có vẻ náo nhiệt lắm.”
“Rất náo nhiệt.” Ta hơi tiếc nuối: “Nhưng thân thể ngài còn yếu, năm nay không kịp xem rồng với ta rồi.”
Chu Chấp Tự im lặng rồi khẽ nói: “Xin lỗi.”
“Không sao.” Ta cười: “Sang năm cùng nhau xem cũng được.”
Hắn thoáng sững người.
Nhưng ngay sau đó, hắn cũng bật cười: “Cũng phải. Sang năm cùng nhau xem.”
19
Sau Tết, xuân về trọn vẹn.
Hoa nở rợp khắp, cỏ non mềm như tơ, chen nhau đâm chồi nảy lộc, trải khắp sân vườn như gấm thêu rối rắm.
Thân thể của Chu Chấp Tự cũng theo đó mà dần khoẻ hơn.
Cuối tháng Hai, hắn đã có thể để ta dìu ra sân phơi nắng.
Nhưng Ánh cô vốn cẩn trọng, vẫn nhất mực theo đạo “xuân đắp, thu lạnh”, ngày nào cũng thêm áo cho hắn, quấn hắn kỹ như chiếc bánh chưng vừa buộc.
Còn ta thì mặc áo vải mỏng, tung tăng chạy nhảy, cũng bị lôi lại bắt đội mũ hổ đầu, trông ngốc nghếch vô cùng.
Người trong phủ lại rút đi thêm vài kẻ, nay chỉ còn Ánh cô, Tống bá, A Phúc cùng hai nha hoàn Linh Họa và Thúy Ca.
Hoa cỏ trong sân vì ít người chăm sóc mà mọc bừa bãi nhưng chính vẻ ngổn ngang ấy lại sinh ra nét u tịch khó diễn.
Tống bá mỗi ngày lại thay món mới, nấu đủ loại thức ăn ngon miệng.
Ta ăn đến bụng tròn vo, dáng người lớn nhanh thấy rõ.
Vào hạ, ống quần đã ngắn cũn, tóc dài mềm óng liền buộc thành búi sau đầu, đuôi lắc lư như ngựa con.
Mỗi sớm, Tống bá dẫn ta và Chu Chấp Tự cùng luyện Bát Đoạn Cẩm.
Chu Chấp Tự vì chân bất tiện nên chỉ luyện được nửa bài nhưng vẫn kiên trì ngày ngày theo tập.
Cuối hạ, tiếng ve râm ran khắp sân, bóng cây rợp trời, ta đã có thể hoàn tất một bài quyền, ra chiêu dứt khoát, khí lực đầy đủ.
Tống bá khen ta có thiên phú.
Ông là người kỳ lạ, thậm chí có phần thần bí.
Không chỉ biết nấu nướng mà còn tinh thông cung pháp, quyền thuật, lại giỏi cả mộc nghệ tinh xảo.
Đầu thu, lá ngân hạnh rơi vàng rợp đất, ông đột ngột lấy ra một chiếc xe lăn bằng gỗ, đẹp đến mức tưởng như biến từ hư không mà ra.
Xe đóng theo vóc dáng Chu Chấp Tự, toàn thân gỗ tốt, sơn mài láng bóng, bánh xe nhẹ lướt, còn gắn thêm giá che ô để dùng khi mưa.
Từ ấy, ta bắt đầu đẩy hắn chạy vòng quanh sân.
Gió luồn qua mái tóc, tiếng cười vang vọng bốn bề.
Ánh cô đứng nơi hành lang, lúc nào cũng làm bộ nghiêm giọng trách mắng đôi câu nhưng khoé môi lại cong nhẹ.
Chớp mắt đã sang đầu đông.
Chiều ngày Lập Đông, ta tìm quanh không thấy Chu Chấp Tự, hỏi Linh Họa mới hay hắn đã đến thư phòng phía tây.
Đó là nơi Chu phu nhân khi còn sống thường lui tới, từ ngày bà mất, căn phòng ấy vẫn phủ bụi.
Nơi đó, hắn vẫn luôn né tránh, như thể là vết thương chẳng bao giờ muốn chạm.
Không rõ hôm nay vì sao hắn lại chủ động tìm đến.
20
Khi ta đến nơi, cửa thư phòng đang rộng mở.
Án thư vẫn thanh nhã như cũ, trên bàn bày đầy tranh cuộn, từng tờ từng tờ xếp ngay ngắn.
Nắng chiều xuyên qua song gỗ, chiếu sáng từng hạt bụi lơ lửng giữa không trung.
Phòng không lớn nhưng bốn vách đều treo tranh vẽ thần Phật.
Khoảnh khắc ấy, tựa như trăm vị thần đang cúi nhìn xuống, lặng lẽ quan sát thế gian.
Chu Chấp Tự quay lưng về phía ta, ngẩng đầu nhìn bức tranh giữa chính giữa vách tường.
Là một bức Quan Âm.
Ta nhớ Chu phu nhân khi còn sống tinh thông nhất là vẽ thần Phật, nổi tiếng khắp kinh thành với tranh Quan Âm từ bi.
Giờ tận mắt thấy, quả nhiên danh bất hư truyền.
Trên bức họa, Quan Âm tay cầm tịnh bình, mi mục nhu hòa, quanh thân phủ tầng lụa trắng mờ như ánh trăng.
Từ bi, lại thanh tịnh.
Ta bước đến bên hắn, chắp tay sau lưng, nhẹ giọng: “Mẫu thân của ngài vẽ đẹp thật.”
“Bà tên La Cố Thu.” Hắn nói, giọng nhạt như gió: “Là một trong những họa sư nổi danh nhất kinh thành.
Luận vẽ Quan Âm, bà đứng thứ hai thì không ai dám xưng thứ nhất.”
Hắn nhìn lên bức họa, chậm rãi nói tiếp: “Thế nhưng bà vẽ nửa đời thần Phật, thần Phật lại chưa từng bảo hộ cho bà.”
Ta khựng lại.
Một thoáng im lặng, ta nhẹ giọng: “Có lẽ... điều bà cầu xin sau cùng, là mong Quan Âm phù hộ cho ngài.”
Chu Chấp Tự cụp mắt, cười nhạt.
Một lúc sau, hắn khẽ nói: “Hôm ấy, vốn dĩ chúng ta không định đến ngọn núi đó.”
“Là ta thấy hoa đào bên núi đẹp quá, cứ nhất quyết đòi tới xem.”
Giọng hắn rất bình thản, như kể lại chuyện không liên quan đến mình.
“Cho nên... mới gặp bọn người kia, mới khiến phụ mẫu phải chết.
Nếu lúc đó ta không đòi đi thì đã không sao…”
“Lẽ ra ta nên chết theo họ mới đúng... Nhưng vì sao mọi người đều muốn ta sống tiếp?”
“Ta như thế này, sống còn có ý nghĩa gì?”
Ngoài cửa sổ, chim sẻ ríu rít chuyền cành rồi bay xa về phương nam.
Ta ngẩng đầu, nhìn lên bức Quan Âm trước mặt.
“Ta cũng không biết.” Ta đáp: “Ta chưa từng nghĩ đến những chuyện ấy.”
Hắn hỏi: “Vậy ngươi thường nghĩ gì?”
Ta trầm ngâm một hồi rồi đáp, giọng nhẹ như gió: “Tống bá nói, hạt dẻ trên núi Phượng Kỳ ăn rất ngon, năm sau ta muốn cùng ngài đi nhặt.”
“Phía đông thành có một hồ sen lớn, củ sen giòn ngọt, ta muốn rủ ngài đi đào về xào.”
“Ngài từng nghe nói đến núi tuyết Tiên Nghiên chưa? Nghe đồn có tiên nhân ở ẩn, ta muốn cùng ngài thử leo một lần.”
Chu Chấp Tự nghe đến đó thì khẽ bật cười: “Lô Hoa, ngươi thật tham.”
Ta sửa lại: “Là ta muốn ‘cùng ngài’ làm những chuyện ấy.”
Hắn nghiêng đầu, mỉm cười: “Ừ, là ‘cùng ta’.”
Ánh hoàng hôn đỏ rực trải khắp thềm hiên, mây chiều vắt ngang bầu trời, đẹp đến ngỡ ngàng.
Ta nói: “Giờ này chắc Tống bá đã nấu xong bánh hoa quế với chân giò rồi. Về thôi.”
Hắn gật đầu: “Được.”
Ta đẩy xe lăn ra khỏi phòng.
Định xoay người khép cửa thì hắn nhẹ giọng bảo: “Cứ để mở đi.”
Ta gật đầu, buông tay.
Gió đầu đông lùa vào, cuốn bay lớp bụi phủ trên mặt tranh.
21
Mùa xuân năm sau, Ánh cô tự tay may cho ta và Chu Chấp Tự mỗi người một chiếc áo bông mới.
Tết Thượng Nguyên, ta đẩy hắn ra phố ngắm đèn.
Đèn hoa rực rỡ, múa rồng múa lân khắp phố, người người tấp nập.
Chúng ta không chen vào trung tâm được, chỉ đứng ở rìa đường, ngắm nhìn từ xa cũng đủ lòng mãn nguyện.
Về sau, được sự đồng ý của Chu Chấp Tự, trong phủ bắt đầu lấy tranh của Chu phu nhân ra bán.
Tranh bà vốn nổi tiếng, nay bà mất rồi lại càng quý, chẳng thiếu người hỏi mua.
Thậm chí có cả quý nhân trong cung đến tận nơi, mua đi hai bức.
Cũng từ đó, Chu Chấp Tự bắt đầu cầm bút vẽ trở lại.
Tuy chưa vẽ được lâu nhưng đã tốt hơn trước rất nhiều.
Hắn nói: “Mọi người đều cần áo mặc, cần cơm ăn.
Bao năm nay vì ta mà chịu khổ, ta... thật sự thấy có lỗi.”
Ánh cô nghe vậy, mắt hoe đỏ, tay run run lau nước mắt.
Tống bá thì bắt đầu dạy ta bắn cung.
Ông bảo ta có linh khí, học rất nhanh.
Lúc ta luyện bắn ngoài sân, Chu Chấp Tự ngồi một bên đọc sách hoặc vẽ tranh.
Vài tháng sau, ta đã có thể bắn trúng hồng tâm.
Theo lời Tống bá, ta bắt đầu học chạy trên tường viện.
Lúc đầu suýt té nhào, sau lại như bay trên ngói, nhẹ nhàng như mèo.
Tiếng chân đạp ngói vang lớn khiến Ánh cô mắng không ngớt: “Tống Hách Sinh! Suốt ngày dạy trẻ con mấy trò kỳ quặc là sao?!”
Tống bá xoa đầu: “Chết rồi, hình như ta còn đang hầm nồi thịt dê... phải xem ngay!”
Linh Họa với Thúy Ca thì vỗ tay cười ầm: “Đ.á.n.h đi! Dạy tiếp đi!”
Rồi lại đến đại đông.
Ta ngồi trên mái, tay vốc tuyết ném xuống đầu Chu Chấp Tự bên dưới.
Hắn không giận, ngẩng đầu cười.
Ánh mắt trong suốt, phản chiếu ánh nắng đầu đông đẹp đến nao lòng.
Ta hoảng hốt vội úp một nắm tuyết lên mặt, che đi hai má đang đỏ bừng.
22
Ngày tháng trôi như suối nguồn lặng lẽ.
Đông tàn xuân tới, năm này sang năm khác, thoắt cái... ta đã tới tuổi cập kê.
Dưới sự chỉ dạy của Tống bá, ta trở thành tay xạ thủ lanh lẹ, giỏi cưỡi ngựa, tinh thông bắn cung, có thể phi ngựa đuổi theo thỏ trong rừng mà bắn trúng hồng tâm.
Chu Chấp Tự năm ấy mười bảy.
Tranh của hắn đã bắt đầu có danh tiếng.
Người trong thành khen thiếu công tử họ Chu, nét bút trầm tĩnh, thần sắc thanh nhã.
Chân phải của hắn chưa hoàn toàn lành hẳn nhưng đã có thể chống gậy đi lại.
Nhìn từ xa... gần như chẳng khác người thường.
Năm ta mười sáu, Tống bá hỏi ta có muốn đến tiêu cục giúp bạn ông một chuyến không.
Ánh cô thì không nỡ cho ta ra ngoài.
Ta lưỡng lự, bèn hỏi ý Chu Chấp Tự.
Hắn đặt bút xuống, hỏi lại: “Lô Hoa, muội muốn đi không?”
Rồi hắn dịu giọng nói: “Giờ trong nhà cũng chẳng thiếu thốn gì.
Điều quan trọng nhất là muội tự nguyện hay không.”
Ta nghĩ một hồi, đáp: “Muội muốn đi, Tống bá nói chỉ đi mấy trấn quanh đây thôi, vẫn có thể thường xuyên về nhà.
Muội cũng muốn chia sẻ phần nào gánh nặng với mọi người và với huynh nữa.”
Chu Chấp Tự trầm mặc giây lát rồi dịu dàng mỉm cười: “Muội đã lớn rồi, có thể tự quyết định, đi đi.”
Ta bắt đầu hoài nghi Tống bá e là không phải người tầm thường.
Lần đầu tiên trong đời được tự mình kiếm tiền, cảm giác ấy khiến lòng ta phơi phới.
Ta có được “kho bạc nhỏ” của riêng mình, đủ để tùy ý mua những thứ bản thân yêu thích.
Năm tháng lặng lẽ trôi.
Thúy Ca nay đã xuất giá, thậm chí còn sinh được một tiểu nữ nhi.
Thỉnh thoảng, nàng dắt con về Chu phủ chơi, cùng Linh Họa và Ánh cô ngồi dưới hiên trò chuyện.
Nếu ta tình cờ vừa trở về nhà, mọi người sẽ cùng nhau ăn gà nướng đất hay bánh ngọt mua từ Hương Ấm Lâu.
Ta đặc biệt thích mua giấy, bút, mực cho Chu Chấp Tự dù bản thân chẳng hiểu được loại nào quý.
Chỉ cần người ta bảo là tốt, ta liền mua.
Dù hắn từ chối bao nhiêu lần, ta cũng không bận tâm.
Nam nhân mà, miệng bảo không, lòng lại là có.
Ta thích thấy hắn dùng đồ ta chọn, bởi như vậy... cũng chẳng khác nào ta vẫn đang ở bên hắn.
Những khi rảnh rỗi, ta thường cùng hắn dạo chơi ngoài phủ.
Chẳng hay từ khi nào, thiếu niên thuở trước có dáng vóc bằng ta giờ đã thành nam tử cao ráo trầm ổn.
Thế nhưng hắn vẫn thường cong mắt cười dịu dàng, gọi ta: “Tiểu Lô Hoa.”
Cành liễu đầu xuân, sao trời đêm hạ, lau sậy mùa thu, hoa mai ngày đông lạnh, chúng ta đều từng cùng nhau ngắm qua.
Cảm tình trong lòng ta tự bao giờ đã hóa thành thứ gì đó khác lạ.
Ta chẳng phân rõ được, chỉ biết rằng...
Ta muốn ở bên hắn mãi mãi.
Bao lâu... cũng không tiếc.
24
Thế nhưng ta lại chẳng thể nhìn thấu tâm ý của Chu Chấp Tự.
Hắn luôn lặng lẽ ngồi đó, mỉm cười dịu dàng, ánh mắt trong trẻo mà xa xăm, như mang theo sương mờ, chẳng soi chi bóng ai khác.
Lại một cái Tết nữa đến.
Ánh cô ngồi bên, bóng gió nhắc chuyện hôn sự của công tử nhà bên.
Bà bảo, thiếu niên ấy còn nhỏ hơn Chu Chấp Tự một tuổi mà nay đã thành thân.
Chu Chấp Tự chẳng đáp một lời, chỉ chậm rãi nhai nuốt thức ăn.
Ta ngồi bên, chẳng rõ hắn đang nghĩ gì.
Cửa sảnh khép hờ, gió lạnh thổi ào ào mang theo tuyết phủ trắng thềm.
Ta cúi đầu ăn món chân giò chua cay do Tống bá nấu nhưng trong miệng nhạt nhẽo vô cùng.
Ánh cô còn định nói nữa thì Chu Chấp Tự đã nhàn nhạt lên tiếng: “So với lo chuyện của ta, chi bằng ngươi lo cho hôn sự của tiểu Lô Hoa đi.
Giờ nàng cũng đã là đại cô nương, nên tìm nơi thích hợp cho nàng mới phải.
Người cũng biết, từ trước đến nay ta vẫn luôn xem nàng như muội muội.”
Lúc ấy... ta không rõ nét mặt mình ra sao.
Chỉ biết, cả bàn tiệc lập tức yên ắng.
Ánh mắt mọi người đổ dồn về phía ta đều mang theo thương hại.
Ta có tư cách gì để giận?
Chỉ lặng lẽ đặt đũa xuống, cười nhạt đứng dậy: “Muội ăn no rồi, ca ca, mọi người cứ dùng tiếp đi.”