Gió Lớn Nơi Biên Ải

Chương 4



7

Sau khi Ôn Như Ngọc rời đi, những ngày tháng vẫn chẳng khác trước là bao.

Quyển binh thư đặt dưới gối bị ta lật qua mấy trang, khi đêm khuya khó ngủ thì tiện tay mở ra xem, dù sao ta cũng chẳng hiểu được bao nhiêu.

Ta lui tới doanh trại thương binh nhiều hơn, rảnh rỗi đến phát hoảng, cũng phải tìm chút việc mà làm.

Cố Trường Phong dẫn người đi tuần tra tuyến Bắc, trước khi rời đi có ghé trướng báo một tiếng, chỉ nói một câu: “Đi tuyến Bắc, ba ngày sẽ về.”

Chuyện hôm ấy, hắn cũng không nhắc lại.

Ta theo đến tận cửa doanh.

“Ngươi mà dám chết ở bên ngoài, ta sẽ dỡ cả cái quân doanh rách nát này của ngươi ra bán lấy gỗ.”

“Chỉ là tuần tra, không phải đi đánh trận.”

“Ai tin? Lần trước cũng nói chỉ bị thương nhẹ, quấn băng như bánh chưng. Lần này trở về thì mang gì?”

Hắn nghĩ một lát.

“Tặng nàng một bông hoa.”

“Cái chốn hoang tàn này đến cỏ còn chẳng mọc, lấy đâu ra hoa?”

“Đi tìm xem.”

Hắn đi rồi, không ngoái đầu lại.

Ta đứng nhìn một hồi, cũng chẳng phải chờ hắn quay đầu, chỉ là muốn xem gió nơi này rốt cuộc lớn đến mức nào.

Ba ngày sau, tiếng vó ngựa vọng lại từ phía đông môn.

Không đúng, đi bắc môn sẽ gần hơn, đi đông môn phải vòng thêm nửa canh giờ.

Ta không ra đón, ngồi trước cửa lều bóc đậu phộng.

Khi hắn xuống ngựa, chân trái chạm đất trước, bình thường đều là chân phải.

Mảnh giáp hộ vai bên phải đã vỡ mất nửa, nửa còn lại chẳng biết rơi nơi nào.

Trên cánh tay trái, dải vải ta quấn cho hắn từ lâu đã không còn, thay bằng một mảnh áo xé xuống; máu thấm qua rồi khô lại, kết thành vảy cứng, dính chặt trên tay áo, chẳng phân rõ đâu là vải, đâu là thịt.

Trên mặt từ gò má đến cằm bị quệt một vệt bụi, như thể đã lăn qua đất.

“Đã nói là đi tuần tra, ngươi đây là tuần tra hay đi đánh trận?”

Hắn không đáp, tháo đao khỏi lưng ngựa, động tác chậm hơn thường ngày.

“Có phải ngay cả đầu óc cũng bị chém mất rồi không?”

“Gặp phải một toán tàn binh nhỏ, không đáng ngại.”

“Bông hoa đâu?”

Hắn đưa tay lấy từ trong ngực ra một nắm đồ, đưa tới.

Đó là dải vải trắng ta từng quấn cho hắn, được tháo xuống, giặt sạch, gấp lại thành một miếng nhỏ, bọc lấy thứ gì đó.

Ta mở ra, bên trong là một bông hoa dại, nhỏ bằng móng tay, vàng nhạt, đã héo, cánh hoa nhăn nhúm, xấu đến mức chẳng ra hình dạng.

“Chỉ có thế này?”

“Tìm suốt hai ngày.”

“Ngươi có phải nhổ cỏ ven đường rồi khăng khăng bảo đó là hoa không?”

Hắn không đáp, xoay người rời đi, trên người toàn mùi đất tanh lẫn mùi máu.

Ta cúi đầu nhìn bông hoa ấy thêm một lần.

Xấu chết đi được.

Ta đặt nó vào trong ấm trà trong lều, nơi này gió lớn, chớp mắt đã bị thổi bay, mà ấm trà lại có nắp, giữ được.

Đêm ấy ngoài trướng vang lên tiếng bước chân dồn dập.

Qua rèm trướng, ta nghe được mấy chữ: “phía bắc”, “tụ tập”, “không dưới năm vạn.”

Cố Trường Phong bước ra ngoài, bước chân nhanh hơn thường ngày.

Doanh trại bỗng chốc tĩnh lặng, đến cả bếp của lão Lưu đầu cũng không còn tiếng động.

Sự yên tĩnh ấy, còn khiến người ta khó ngủ hơn cả ồn ào.

8

Khi tin năm vạn quân vây thành truyền đến, ta đang gội đầu.

Lúc Thúy Nhi xông vào, tóc ta còn nhỏ nước, môi run bần bật, hồi lâu mới nói được trọn một câu.

Ta vắt tóc, nói: “Đợi ta gội xong rồi vây có được không.”

Thúy Nhi bật khóc.

“Được rồi, được rồi, năm vạn người mà thôi, Cố Trường Phong chẳng phải được gọi là Cố Diêm Vương sao, Diêm Vương còn sợ quỷ nhiều à?”

Đến ngày thứ ba, lương thảo đứt đoạn.

Thương nhân lương thực trong thành chỉ còn lại lô hàng cuối cùng, ngồi đó hét giá, một cân gạo bán mười lượng bạc.

Ta lôi hộp trang sức ra, bên trong chẳng còn mấy món.

Cây trâm phượng vàng chạm dây được đưa ra, thương nhân lật tới lật lui, cắn thử một miếng, nói chất lượng tốt, nhưng món nào có khắc chữ thì phải hạ giá.

“Khắc chữ gì?” ta biết rõ vẫn cố hỏi.

“Nữ nhi của ta là Chiêu Chiêu, một đời không lo.”

“Mẫu mã lỗi thời rồi, ông cứ xem mà trả giá.”

Ta lại lấy ra vòng ngọc dê béo, trâm ngọc bích, cùng một đôi vòng vàng quấn chỉ đỏ.

Thương nhân cân từng món, bàn tính gõ lách cách.

Thúy Nhi đứng bên cạnh, hôm nay không khóc, chỉ nhìn chằm chằm cây trâm phượng bị cất vào hộp, hai tay nắm chặt ống tay áo.

“Đứng ngây ra đó làm gì, giúp ta đếm bạc.”

Nàng cúi đầu đếm.

Hộp trang sức trống rỗng.

Khi ta khép hộp lại, đầu ngón tay chạm vào một vết xước dưới đáy hộp, đó là khi còn nhỏ ta lén lấy trâm của mẫu thân ra chơi, chẳng may làm xước.

Khi lương thực được chuyển vào doanh, mắt lão Lưu đầu đỏ lên một vòng.

Ta nói: “Ngươi khóc cái gì, mau đi nấu cháo, cho thêm nhiều gạo vào, đừng nấu cái nước rửa nồi ấy nữa.”

Hắn gật đầu lia lịa, lúc xoay người vào bếp còn lấy ống tay áo lau mặt.

Buổi chiều ta lên tường thành dạo một vòng.

Ngoài thành đen kịt, doanh trại nối liền từng mảng, kéo dài đến tận chân núi, cờ xí dày đặc đến mức không đếm xuể.

Trên đường trở về, ta đi ngang qua Cố Trường Phong, hắn đứng sau lỗ châu mai nhìn bố trí bên ngoài, ta bước qua hắn, hắn cũng chẳng để ý.

“Năm vạn người, ngươi đánh thắng được sao?”

“Đánh thắng hay không cũng phải đánh.”

“Nếu ngươi đánh không lại, đống trang sức của ta chẳng phải bán uổng rồi sao.”

Lần này hắn nhìn ta một cái, nhưng vẫn không nói gì.

Ban đêm, ngoài lều có người nói chuyện, giọng bị nén rất thấp, tấm rèm rách này nào che được gì.

“Lương thực nhiều nhất chỉ trụ được bảy ngày.”

“Thám mã đâu?”

“Đã phái ra ba đợt, không ai trở về.”

Im lặng một lúc.

Cố Trường Phong chỉ nói một chữ: “Thủ.”

Ta trở mình, không sao ngủ được.

Ấm trà đặt bên gối, bông hoa dại bên trong đã khô quắt, co lại thành một nắm nhỏ, nhưng vẫn còn màu vàng.

Không phải ta xót thương ai, chỉ là xót đống trang sức của mình.

Chương trước Chương tiếp
Loading...